Thứ 2, ngày 1 tháng 09 năm 2014

Phân loại đau, hội chứng điển hình

PHÂN LOẠI ĐAU THEO CƠ CHẾ GÂY ĐAU

Đau thực thể là chứng đau thường gặp với những đặc điểm:

+ Kích thích gây cảm giác đau rõ ràng.
+ Đau khu trú ở một vị trí rõ rệt - có thể quy chiếu được đau nội tại cụ thể trên vùng da bên ngoài.
+ Đau tương tự như những chứng đau thực thể khác.
+ Cơn đau giảm nếu bệnh nhân được dùng thuốc giảm đau ngoại vi và các phương pháp phong bế vô cảm.
+ Đau thực thể thường có vai trò nhận cảm thụ của các thụ cảm thể, là cơ chế thường gặp nhất trong phần lớn các chứng đau cấp tính và mạn tính.
+ Đau thực thể thường gặp trong các bệnh lý có tổn thương dai dẳng như viêm, thoái hoá xương khớp mạn tính hay trong bệnh lý ung thư.
+ Đau do thụ cảm thần kinh thường biểu hiện rất đa dạng: đau nhói, đau rát như bị bỏng, hoặc đau quằn quại vật vã, hoặc đau âm ỉ kéo dài. Tuỳ giai đoạn bệnh, đau có thể vượng phát như đau cấp tính, thường gặp trong những bệnh lý mạn tính, nhất là bệnh lý thần kinh - cơ - khớp.

Đau do bệnh thần kinh thường gặp những đặc điểm:

+ Kích thích gây đau không rõ ràng.
+ Không khu trú rõ rệt.
+ Đau bất thường không giống đau thực thể.
+ Dùng thuốc giảm đau gây ngủ chỉ giảm một phần.
+ Các triệu chứng chủ quan: đau tự phát từng cơn hay liên tục; cảm giác đau như bị điện giật, đau như bị xé, như dao đâm, bị châm chích, bị bỏng rát.
+ Các triệu chứng khách quan: kích thích không gây đau nhưng bệnh nhân có cảm giác đau, sờ nhẹ vào da thì thấy rất đau; tăng cảm giác đau.
+ Đau do cơ chế trung ương khi tổn thương thuộc thần kinh trung ương.
+ Đau do cơ chế ngoại vi khi đường dẫn truyền hướng tâm bị tổn thương do nhiều nguyên nhân, dẫn đến ảnh hưởng trực tiếp đến sự dẫn truyền, cảm giác, rối loạn chức năng.
+ Đau hỗn hợp khi có tổn thương thần kinh trung ương và thần kinh ngoại vi, là hình thái lâm sàng thường gặp.

Đau do căn nguyên tâm lý thường gặp đặc điểm:

+ Đau do những cảm giác bản thể hay nội tại, đau do bị ám ảnh nhiều hơn là đau thực thể.
+ Đau không điển hình, không có ví trí rõ rệt, thường đau lan toả.
+ Đau thường gặp ở những bệnh nhân bị trầm cảm, tự kỷ ám thị về bệnh tật, tâm thần phân liệt.

PHÂN LOẠI ĐAU THEO THỜI GIAN

Theo thời gian: theo y học kinh điển, người ta ấn định giới hạn phân cách đau thành 2 nhóm, tham khảo bảng phân loại dưới đây:

+ Đau cấp tính có thời gian dưới 12 tuần.
+ Đau mạn tính có thời gian kéo dài trên 12 tuần.

Đau cấp tính

Đau mạn tính

Mục đích sinh học

Có ích - bảo vệ

Vô ích - phá hoại

Cơ chế gây đau

Đơn yếu tố

Đa yếu tố

Phản ứng của cơ thể

Phản ứng lại

Thích nghi dần

Yếu tố cảm xúc

Lo lắng

Trầm cảm

Hành vi thái độ

Phản ứng

Tìm hiểu

Kiểu mẫu

Y học kinh điển

Đa chiều thực thể tâm lý - xã hội

Mục đích điều trị

Chữa khỏi

Tái thích ứng

Bảng phân loại đau theo thời gian

PHÂN LOẠI THEO TÍNH CHẤT ĐAU

Đau cấp tính (acute pain): là đau mới xuất hiện, có cường đau mạnh mẽ, được coi là dấu hiệu lâm sàng hữu ích để xác định nguyên nhân gây đau. Đau cấp tính đòi hỏi được chẩn đoán hết sức khẩn trương và chính xác, toàn diện nhằm xác định chứng đau có nguồn gốc thực thể hay không? Đau cấp tính bao gồm:

+ Đau chấn thương.
+ Đau sau bỏng.
+ Đau sau phẫu thuật.
+ Đau sản khoa.
+ Đau bụng cấp do các nguyên nhân bệnh ngoại khoa - nội khoa.
+ Đau cấp diễn - hồi quy trên những bệnh nhân mạn tính có trước.

Đau mạn tính (chronic pain): là chứng đau dai dẳng, tái đi tái lại nhiều lần. Đau tàn phá cơ thể bệnh nhân cả về thể lực và chất lượng sống, tâm lý xã hội. Bệnh nhân thường điều trị nhiều phương pháp khác nhau, nếu bệnh không thuyên giảm sẽ làm bệnh nhân lo lắng, mất niềm tin, đau có thể trầm trọng hơn và phát sinh các ảnh hưởng chức năng kèm theo. Đau mạn tính bao gồm:

+ Đau đầu - bệnh ở các cơ quan: vùng mặt; mắt; tai mũi họng; răng hàm mặt.
+ Đau cổ - đau vai - đau lưng.
+ Đau ngực - bụng.
+ Đau gân - đau cơ.
+ Đau do sẹo co rút (sau bỏng, sau chấn thương).
+ Đau khung chậu mạn tính.
+ Đau do thoái hoá thần kinh - cơ.
+ Đau do viêm thoái hoá cơ - khớp.
+ Đau do loãng xương.
+ Đau do rối loạn chuyển hoá.

PHÂN LOẠI ĐAU THEO TÍNH CHẤT BỆNH NAN Y

Đau trong bệnh lý ung thư, thường là đau mạn tính hoặc cấp tính. Mạn tính vì diễn biến không ồ ạt, thường âm ỉ kéo dài, khi phát hiện thì thường đã có biến chứng. Cấp tính vì đến một giai đoạn khối u chèn ép, gây tắc lòng ruột thì phải can thiệp bằng phẫu thuật. Đau ung thư thường có tính chất với biểu hiện nhức nhối, đè ép, kéo căng, co thắt, xoắn vặn, đau như bị xé, có khi đau như đau thần kinh, đau bỏng rát, đau như điện giật hoặc tê liệt. Kèm theo biểu hiện đau, bệnh nhân thường nôn ói, rối loạn tiêu hoá, xuất huyết tiêu hoá.

Đau trong bệnh HIV/AIDs biểu hiện bằng những tổn thương do suy giảm miễn dịch toàn thân. Ngoài da thường lở loét, hoại tử khó lành, đau loét họng miệng, khó nuốt, rối loạn tiêu hoá, tiêu chảy kéo dài. Các ảnh hưởng tới hệ thần kinh thường có biểu hiện đau đầu, đau thần kinh ngoại vi, đau thần kinh trung ương. Các ảnh hưởng tới cơ - xương - khớp thường là viêm cơ, viêm khớp, đau khớp.

PHÂN LOẠI THEO VỊ TRÍ

Đau cục bộ/ khu trú (local pain): là vùng cả giác đau trung với khu trú quá trình bệnh lý.

Đau xuất chiếu (referred pain): đau do rễ thần kinh, hoặc đau dây thần kinh, thường gặp trong vùng lưng và cổ. Cảm giác đau lan toả với cường độ mạnh, lan xa theo vùng rễ thần kinh chi phối cảm giác. Đau có cơ chế xoắn vặn, căng giãn, kích thích hoặc chèn ép. Khu trú đau không trùng với khu trú của kích thích tại chỗ trong hệ cảm giác.

Đau lan xiên: là cảm giác đau lan toả từ một nhánh thần kinh này sang một nhánh thần kinh khác.

Đau phản chiếu (reflected pain): là kiểu đau lan xiên, nhưng kích thích đau từ nội tại, lan xiên đến vùng da bên ngoài. Hiện tượng này được giải thích bằng thuyết phản chiếu (cơ chế phản xạ đốt đoạn), tại lớp V của sừng sau tuỷ sống, có những tế bào thần kinh không đặc hiệu, gọi là nơrôn hội tụ, tại đây hội tụ những đường cảm giác đau hướng tâm, xuất phát từ da, cơ, xương và nội tại, làm cho não chỉ tiếp nhận thông tin theo đường hướng tâm mà không phân biệt được đau có nguồn gốc ở đâu, và thường hiểu lầm là đau xuất phát từ vùng da tương ứng. Kiểu đau này được gọi là hiện tượng cảm giác nội tại, vùng da xuất hiện đau còn được gọi là vùng Zakharin Heal.

MỘT SỐ HỘI CHỨNG ĐAU ĐIỂN HÌNH


PAIN.VN/ IASP-PAIN.ORG


Các tin liên quan »

 





























 
Copyright @ 2010 PAIN.VN - ĐAU CỘT SỐNG VÀ THẦN KINH - CƠ - KHỚP  
Trang thông tin dự án Đông y Việt - không tự ý áp dụng thông tin trên pain.vn để chẩn đoán và điều trị