Chủ nhật, ngày 25 tháng 06 năm 2017

Đau - Bất thông tất thống

"Biện chứng kết hợp biện bệnh, điều trị tổng hợp" là nguyên tắc cơ bản trong chẩn đoán và điều trị các bệnh phong thấp. Đặc điểm của các bệnh phong thấp chủ yếu biểu hiện tại các khớp, cân cơ, kinh mạch với những triệu chứng cơ bản như sưng nề, đau nhức, cảm giác tê bì, hạn chế vận động khớp,…



Trong đó đau khớp là triệu chứng bệnh lý chủ yếu gặp ở hầu hết các trường hợp bệnh nhân phong thấp, việc nhanh chóng giải quyết đau đớn là nguyện vọng lớn nhất của người bệnh, đồng thời cũng là vấn đề đầu tiên cần làm với các bác sĩ lâm sàng. Hội nghị quốc tế năm 1979 về chuyên đề đau đã định nghĩa đau như sau: " Đau là một loại kích thích làm cho con người cảm thấy khó chịu, thường là biểu hiện tại chỗ hoặc đi kèm với tình trạng tổn thương các tổ chức cơ quan. Đau là một cảm giác mang tính chủ quan, do con người gặp các chấn thương trong quá trình sống, sinh hoạt và lao động mà phát ra thành lời. Không có nghi ngờ gì, đau là cảm giác tại chỗ hoặc toàn thân mang lại cho con người cảm nhận khó chịu".

Y học cổ truyền cho rằng có nhiều nguyên nhân dẫn tới đau. Cơ chế bệnh sinh của đau cũng không phải là như nhau, tựu trung có thể quy nạp thành ba dạng chủ yếu như sau:

1. " Bất thông tất thống": Tố vấn trong Cử thống luận cho rằng hàn khí xâm nhập vào kinh mạch làm trở trệ mà không hành, nếu tập trung ở ngoài mạch tất huyết thiếu, nếu tập trung trong mạch tất khí không thông, như vậy sẽ dẫn tới đau. Hoặc nhiệt khí đình tụ ở tiểu trường, tiểu đại trường  đau, phiền nhiệt háo khát, tất phân táo khô khó đi, như thế gọi là đau do bế bất thông. Khi có sự đấu tranh giữa thực tà và khí huyết, tạng phủ kinh lạc mất đi sự điều hoà, khí huyết vận hành không thông đạt, bất thống tất thống. Do bệnh tà dẫn tới bất thông không giống nhau, do đó cơ chế bệnh sinh cũng vì thế mà có sự khác biệt.

1.1. Khí trở trệ: khí cơ xuất nhập thăng giáng do phế, thăng phát sơ tiết do can, tỳ vị là nơi đảm trách thăng giáng khí cơ. Ba cơ quan này có mối quan hệ mật thiết trong việc dẫn tới đau do khí trệ.

- Can uất khí trệ: Can là tạng thể âm mà dụng dương, tính thích nhu mà ghét cương, do đó can khí thái quá hay bất cập đều có thể dẫn tới đau do uất trệ.

- Phế khí uất bế: Phế trào bách mạch mà từ đó tuyên phát túc giáng, trong thăng hàm tuyên, trong giáng hàm liễm, duy trì hoạt động hô hấp, bảo đảm sự thông đạt khí huyết. Các nguyên nhân làm phế mất tuyên túc, khhí cơ bế uất dẫn tới đau ngực, đau mỏi toàn thân.

- Tỳ vị khí trệ: Tỳ chủ thăng, vị chủ giáng. Tỳ vị mất đi thăng giáng, khí huyết vận hành trở trệ dẫn tới phúc thống,…

1.2. Huyết ứ trở lạc: Có nhiều nguyên nhân dẫn tới huyết ứ trở lạc như lục dâm, thất tình, ngoại thương, chính suy,… các nhân tố này làm cho huyết ứ trệ trong kinh mạch, huyết trệ không hành, bất thông tất thống.

1.3. Kinh mạch ngưng trệ: Chủ yếu do hàn tà gây nên.

1.4. Kinh mạch bị chưng đốt: Chủ yếu do đàm, nhiệt, thấp gây nên

2. "Bất vinh tất thống": Chủ yếu chỉ một số nhân tố tà khí xâm nhập, hoặc công năng tạng phủ suy yếu dẫn tới âm dương, khí huyết (tinh)…hao tổn, tạng phủ mạch lạc mất đi sự ôn dưỡng nhu nhuận, từ đó dẫn tới chứng đau. Có thể gặp các nhân tố sau:

2.1. Dương khi hư nhược, lạc mạch mất đi ôn dưỡng.

2.2. Âm huyết hao thương, lạc mạch mất đi nhu nhuận.

2.3. Âm hư không chỉ làm cơ thể mất đi sự nhu dưỡng mà dẫn tới đau, chúng còn có thể làm cho dương khí thịnh tương đối, hưu nhiệt nội sinh, ảnh hưởng tới tạng phủ khí huyết kinh lạc, từ đó cũng xuất hiện triệu chứng đau.

3. "Đau thuộc tâm": Tố vấn trong Chí chân yếu đại luận đã viết " Phàm là đau ngứa đều thuộc do tâm". Đã có nhiều nhà Y học điều xuất phát từ chữ "Nhiệt" để giải thích, Tâm chủ huyết mạch, là hành hoả trong ngũ hành, là thái dương trong dương. Tâm hoả vượng thịnh tất huyết trệ nhiệt chứng mà dẫn tới đau. Trên thực tế lâm sang có thể thấy rằng sự hình thành xuất hiện, mức độ nặng nhẹ, xu hướng biến đổi của triệu chứng đau đều đa phần có mối tương quan mật thiết với trạng thái thần kinh của con người.

Y học hiện đại qua nghiên cứu xác định, đau là chứng trạng cơ thể phải chịu đau khổ. Cảm giác đau sau khi hình thành được coi là một dạng kích thích không có lợi, có thể dẫn tới các cơ quan hệ thống trong cơ thể sản sinh những ảnh hưởng ở các mức độ khác nhau và những biểu hiện chứng trạng cũng không giống nhau:

1. Ảnh hưởng đối với tâm lý tinh thần: Những kích thích đau cấp tính với mức độ nặng có thể làm hưng phấn thần kinh của bệnh nhân, kích thích vật vã, rên la gào thét,…Những kích thích đau mạn tính kéo dài trong thời gian dài dễ dẫn tới trạng thái trầm uất, sụt giảm tinh thần, biểu lộ tình cảm nhạt nhẽo,…

2. Ảnh hưởng đối với hệ tuần hoàn: ở những bệnh nhân đau tim có thể thấy thay đổi trên ECG, các bệnh nhân tăng huyết áp có thể do đau đớn làm tăng huyết áp cao. Nếu đau đơn mức độ nặng tại các cơ quan nội tạng lại có thể làm tụt huyết áp, thậm chí dẫn tới hư thoát, tử vong,…

3. Ảnh hưởng đối với hệ thần kinh: Các nghiên cứu phát hiện cảm giác đau có liên quan mật thiết tới hệ thần kinh như cơn đau thắt ngực, đau trong hội chứng dạ dày tá tràng, đau trong viêm dây thần kinh hông to,…

4. Ảnh hưởng đối với hệ hô hấp: Khi đau đớn kịch liệt có thể thấy người bệnh có nhịp thở nhanh nông, triệu chứng này càng rõ ràng hơn với những trường hợp bị đau ở vùng bụng hoặc ngực. Nếu như đau mạn tính tuy không thấy rõ mối tương quan với hô hấp nhưng có thể do tinh thần của người bệnh lo lắng căng thẳng mà có ảnh hưởng chức năng thông khí của cơ thể.

5. Ảnh hưởng đối với hệ tiêu hoá: Đau đớn mức độ nặng có thể làm cho người bệnh buồn nôn và nôn, đau mạn tính kéo dài trong thời gian dài cũng ảnh hưởng tới tiêu hoá của người bệnh,…

Trong biện chứng luận trị chứng đau trong bệnh phong thấp, thông qua các nguyên tắc cơ bản của YHCT như tứ chẩn xác định chứng trạng chủ yếu, trị bệnh cầu nguyên, phân biệt rõ bộ vị khí huyết, xác định đặc tính hàn nhiệt hư thực của triệu chứng đau,… từ đó mà xác định thái độ và phương pháp điều trị phù hợp để giảm nhẹ tình trạng đau đớn cho người bệnh, các phương pháp nội trị thường dùng như sau:

a. Phát hãn chỉ thống
b. Thanh nhiệt chỉ thống
c. Bổ ích chỉ thống
d. Ôn dương chỉ thống
e. Hoà giải chỉ thống           
- Hoà giải biểu lý           
- Điều hoà can tỳ           
- Điều hoà đởm vị           
- Điều hoà vị trường
g. Hoãn cấp chỉ thống
f. Thống lạc chỉ thống
h. Sơ can chỉ thống
i. Nhu can chỉ thống
k. Ôn bổ can dương chỉ thống
m. Bổ thận chỉ thống




PAIN.VN











Các tin liên quan »

 































 

Pain.vn Copyright 2007  | 
Đau Cột sống và Thần kinh - Cơ - Khớp
TRANG THÔNG TIN DỰ ÁN ĐÔNG Y VIỆT  |  Không tự ý áp dụng thông tin trên PAIN.VN để chẩn đoán và điều trị